DIỄN VĂN ĐỌC TRONG BUỔI HỌP NGÀY 26.09.2004

Hoàng Khoa Khôi

Thưa các anh các chị và các bạn,

Thay mặt ban tổ chức, tôi xin cám ơn các anh các chị cùng các bạn đã đáp lời mời của Tủ Sách Nghiên Cứu, có mặt ngày hôm nay, tại nơi đây. Tôi rất cảm động nhận thấy trong phòng họp có nhiều khuôn mặt đến từ những chân trời khác nhau. Điều này chứng tỏ một chính thể đa nguyên đa dạng có thể thực hiện được ở nước ta.

Thưa các anh các chị và các bạn,

1.
Sau khi tờ Chroniques Vietnamiennes đình bản, nhóm Đệ Tứ Việt Nam ở Pháp dồn lực lượng của mình vào việc xuất bản Tủ Sách Nghiên Cứu. Mục tiêu chủ yếu của chúng tôi là bảo vệ học thuyết mác xít đã bị các đảng phái theo Staline làm xuyên tạc và làm “biến dạng”. Mục tiêu thứ hai là đấu tranh cho sự thực hiện một nền dân chủ đa nguyên đa dạng ở Việt Nam.

Mặc dầu gặp nhiều khó khăn, chúng tôi đã xuất bản được hơn 10 cuốn sách. Trong đó một phần là sách dịch các tác phẩm kinh điển của Léon Trotski, người chiến sĩ đã đem hết đời mình tranh đấu bảo vệ học thuyết Mác Xít và đã bị Staline vu cáo là phản động và ám hại. Phần khác là những sách do chúng tôi biên soạn. Ngoài ra chúng tôi còn xuất bản một loại sách dưới tiêu đề Hồ Sơ Đệ Tứ Việt Nam tại Pháp, trong đó chúng tôi chọn lựa những bài và những tài liệu có liên quan đến Đệ Tứ do chúng tôi viết hoặc do người khác viết. Cuốn Hồ Sơ Đệ Tứ được ra mắt vào đầu hè năm nay là cuốn Hồ Sơ Đệ Tứ Tập III. Nhân đây, xin thưa với các bạn chúng tôi là người đầu tiên trong cộng đồng người Việt đã dịch ra tiếng Việt bản Báo Cáo Mật của Krúp Xếp trước Đại Hội Nghị thứ XX của đảng Cộng sản Liên Xô về tội ác của Stalin. Sách này đã xuất bản 1000 cuốn và tái bản 1000 cuốn. Ngoài ra sách này cũng được phổ biến bằng tiếng Việt trên mạng Internet với tiêu đề Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó.

Trong lúc phần lớn dư luận trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam coi như học thuyết Mác Xít một mặt đã gây ra nhiều thảm họa cho nhân loại và mặt khác đã lỗi thời, chúng tôi nhận thấy, lúc này hơn lúc nào hết, cần phải đặt vấn đề cho đúng sự thực. Thảm họa và lỗi thời không do học thuyết Mác gây ra mà do ngộ nhận hay người ta cố ý ngộ nhận nó. Về điểm này, xin các bạn đọc bài Những ngộ nhận về học thuyết Marx của bác sĩ Nguyễn Hoài Vân viết gần đây. Tôi chỉ nói thêm rằng đảng cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố noi theo chủ nghĩa Mác. Nhưng trên thực tế họ đã hành động ngược lại với những nguyên lý cơ bản của học thuyết này. Chỉ cần lấy một thí dụ điển hình là vấn đề tự do dân chủ. Sau hơn nửa thế kỷ nắm giữ chính quyền, họ vẫn duy trì chế độ độc tài một đảng. Thời còn chiến tranh người ta viện cớ chiến tranh nên chưa thực thi được tự do dân chủ. Nay chiến tranh đã hết từ lâu, họ vẫn ngăn cấm không cho dân chúng sử dụng những quyền tự do dân chủ, như tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập tổ chức, lập đảng, tự do biểu tình, đình công v. v... Tóm lại, những quyền tự do dân chủ mà các nước văn minh ở Tây phương đã có từ lâu. Họ viện dẫn Mác Lênin. Nhưng không ở đâu, không ở tài liệu nào, Mác hay Lênin lại nói muốn thực hiện chủ nghĩa xã hội cần phải có chế độ độc tài một đảng. Quan niệm độc tài một đảng cũng như sự thần thánh hóa đảng cộng sản, sùng bái lãnh tụ là quan niệm của Stalin chứ không phải của Lênin, càng không phải của Mác. Nó đã gây ra những thảm hoạ khôn lường. Hàng vạn, hàng triệu người đã bị giết hại một cách oan uổng vì nó. Đứng trước sự sụp đổ của Liên Xô, đảng cộng sản Việt Nam vẫn chưa rút ra được một bài học nào cả.

Tranh đấu trong vòng hơn 60 năm, nhóm Đệ Tứ VN ở Pháp lúc nào cũng đề cao và lấy vấn đề tự do dân chủ làm hàng đầu. Tủ Sách Nghiên Cứu tiếp tục đường lối ấy.

2.
Nhóm Đệ Tứ VN ở Pháp được hình thành năm 1943, trong lúc nước Pháp bị quân đội phát xít Hitler chiếm đóng. Năm 1944, nước Pháp được giải phóng. Một cao trào quần chúng nổi dậy mãnh liệt lật đổ chính quyền thân Đức của ông Pétain. Một chính quyền mới do ông De Gaulle cầm đầu được thành lập. Hưởng ứng phong trào nổi dậy của nhân dân Pháp, 25.000 Việt kiều ở Pháp, trong đó có 20.000 lính thợ (công binh) và lính chiến (chiến binh) đã kịp thời nắm lấy cơ hội đứng ra thành lập các Uỷ ban đòi quyền lợi cho mình và độc lập cho Việt Nam.

Do sáng kiến của nhóm Đệ Tứ, một sự kết hợp chưa từng có trên đất Pháp, một bên là những người Đệ Tứ, một bên là những người trí thức quốc gia tiến bộ đã được thực hiện. Phiá những người trí thức quốc gia tiến bộ có những khuôn mặt như Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Mãn, Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Đắc Lộ, Bùi Thạnh, Võ Quý Huân, Lê Viết Hường, Phạm Quang Lễ (sau này về nước được đổi tên là Trần Đại Nghĩa). Phía Đệ Tứ có Nguyễn Được, Hoàng Đôn Trí, Hoàng Khoa Khôi, Trần Văn Long, Đào Văn Lễ v.v... Sự kết hợp này đã đi đến việc triệu tập một cuộc hội nghị ở Avignon (vùng Vaucluse) trong ba ngày bầu ra một tổ chức lấy tên là Tổng Uỷ ban Đại diện Việt kiều ở Pháp (Délégation Générale des Indochinois en France). Đồng thời ở khắp các trại công binh và chiến binh nổi dậy một phong trào bầu cử ra các Uỷ ban Đại diện công binh và chiến binh. Trong các tổ chức đó, công binh là đoàn thể có tổ chức chặt chẽ nhất và sau này là rường cột, cốt lõi của phong trào. Đoàn thể công binh ý thức được rằng hoạt động ở Pháp chỉ là nhất thời, cuộc đấu tranh ở Việt Nam chống chế độ thực dân mới là chính. Cho nên ở các trại công binh đã xuất hiện một trào lưu lập các hội Tương Tế hàng xã, hàng tỉnh... sau này đổi tên lại là Hội Công Nông hàng xã, hàng tỉnh. Các tổ chức này thành lập với mục tiêu tiếp tục cuộc đấu tranh ở Việt nam, sau khi trở về nước.

Nhóm Đệ Tứ VN tại Pháp được phát triển nhanh chóng là nhờ sự phát triển của những tổ chức nói trên. Từ một nhóm nhỏ năm bảy người, trở thành một khối với 519 đảng viên vào năm 1950. Nhóm hi vọng đào tạo cán bộ đưa về VN, kết hợp và sát nhập vào nhóm Đệ Tứ của Tạ Thu Thâu để tiến đến sự thành lập một chính đảng có tầm cỡ lớn. Nhưng lịch sử đã tiến theo chiều hướng khác. Chế độ thuộc địa bị sụp đổ nhanh chóng. Chiến tranh ở Việt nam bùng nổ. Cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm làm đảo lộn hết thảy các sơ đồ và dự tính. Trở lại phong trào công binh, chính nhờ những đòi hỏi và cuộc đấu tranh của các Uỷ ban đại diện đối với nhà cầm quyền Pháp, đời sống công binh được cải thiện nhanh chóng. Từ nay họ được trả lương như thợ Pháp khi làm một công việc như nhau, được học nghề ở các trường dạy nghề như thợ Pháp, được quyền kiểm soát kho lương thực và quần áo, kiểm soát sổ sách chi tiêu trong trại. Điều đáng chú ý là việc mở các lớp học chống nạn mù chữ. Chỉ trong vòng 3, 4 tháng, 90% công binh biết đọc, biết viết và biết làm bốn phép tính.

3.
Cùng một lúc với phong trào đấu tranh đòi quyền lợi, Tổng Uỷ ban Đại diện và các Uỷ ban phát động phong trào đấu tranh chính trị, đòi chính quyền Pháp phải trả lại chủ quyền và độc lập cho Việt Nam.

Từ 1945 đến 1950, có thể nói, không có ngày nào lại không có những cuộc đình công bãi thực, biểu tình do đoàn thể công binh tổ chức để chống đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Không có ngày nào không có những vụ cảnh sát đến bao vây các trại công binh, khủng bố, đánh đập dã man công binh vì tội đã treo cờ đỏ sao vàng ủng hộ kháng chiến Việt Nam. Những cuộc đấu tranh chính trị này đã được tác giả Đặng Văn Long mô tả trong cuốn sách dày 611 trang, Người Việt ở Pháp 1940-1954. Buổi đầu, báo chí Pháp, dưới quyền kiểm soát của chính phủ, cố bưng bít, nhưng rồi cũng phải loan tin khi phong trào lan rộng. Chính phủ hoảng hốt ra sắc lệnh giải tán Tổng Uỷ ban Đại diện và bắt giam một số nhân viên của ban điều hành trung ương đồng thời gia tăng đàn áp các Uỷ ban địa phương của công binh. Cần phải nhấn mạnh rằng phong trào công binh đã phát động và tiến triển ngoài vòng ảnh hưởng của Việt Minh và đảng cộng sản Pháp. Đảng này đã không những không ủng hộ mà còn tẩy chay và chống đối. Một phần vì họ tự thấy không thể kiểm soát nổi, một phần vì họ không đồng ý khẩu hiệu chính trị đòi Việt Nam hoàn toàn độc lập của trung ương công binh.

Năm 1946, Hồ Chí Minh sang Pháp vào dịp chính phủ Pháp mở cuộc đàm phán với chính phủ lâm thời Việt Nam. Ông nhận thấy cần phải bài trừ ảnh hưởng Đệ Tứ trong phong trào Việt kiều tại Pháp. Biện pháp đầu tiên là phá bỏ sự đoàn kết giữa những người trí thức quốc gia và những người Đệ Tứ. Việc này ông đã thực hiện được nhanh chóng: 90 phần trăm trí thức trước đây có chân trong ban trung ương tổ chức Tổng uỷ ban đại diện lần lượt ngã theo Việt Minh. Sau này một số đông về nước gia nhập kháng chiến. Bây giờ tính sổ lại, trong số những người này, ít ai giữ vai trò gì quan trọng trong đảng cộng sản VN. Đảng này chỉ sử dụng họ như những chuyên viên về khoa học hay kĩ thuật.

Biện pháp thứ hai là phá bỏ sự đoàn kết giữa công binh và những người Đệ Tứ. Việc này chưa làm được thì ông Hồ Chí Minh phải về nước. Ông chỉ định ông Trần Ngọc Danh ở lại Pháp tiếp tục công việc còn bỏ dở. Nhưng ông Danh đã hoàn toàn thất bại: đa số những người công binh đã từng đấu tranh với những người Đệ Tứ, chịu ảnh hưởng chính trị của người Đệ Tứ, không dễ gì một sớm một chiều nghe lời vu cáo xem Đệ Tứ là phản động, là bán nước, là tay sai của thực dân đế quốc. Trái lại, những lời vu cáo của ông Danh và một nhóm nhỏ Việt kiều ủng hộ ông đã gây ra một tác động phản tuyên truyền quật ngược lại họ. Kết quả là ông Danh đã tạo ra một cuộc phân tranh giữa ông và các Uỷ Ban đại diện công binh và cực điểm cuộc phân tranh là trận xung đột đẫm máu xảy ra ở trại Mazargues gần thành phố Marseille ngày 15-05-1948. Lợi dụng danh nghĩa ông Danh, một đám côn đồ tổ chức những cuộc khủng bố các đại biểu đồng thời gây rối loạn, làm mất an ninh trong trại. Chúng đã gặp phản ứng mạnh mẽ của hơn 1.000 công binh trong trại, kết quả gần 30 người bị thương và 6 người chết, trong đó có một nhân viên trách nhiệm an ninh và trật tự.

4.
Năm 1950, hầu hết công binh hồi hương. Trong số 1.000 người còn lại Pháp, khoảng một phần ba muốn tiếp tục đấu tranh. Họ tập hợp thành một tổ chức lấy tên là “Hiệp đoàn thợ Việt Nam ở Pháp”. Hội tuyên bố tiếp tục đường lối tổ chức và lập trường chính trị của công binh. Cũng như đối với các tổ chức công binh, đối với Hiệp Đoàn, nhóm Đệ Tứ là động lực chủ yếu dẫn đầu, nhưng bao giờ cũng tôn trọng quyền tự do thảo luận, tự do đối lập v.v... theo nguyên tắc tự do dân chủ. Tờ báo Tiếng Thợ trở thành tiếng nói của tổ chức Hiệp Đoàn.

Lập trường chính trị của Hiệp Đoàn cũng noi theo đường lối của công binh. Đối với kháng chiến trong nước và chính phủ Hồ Chí Minh, khẩu hiệu của Hiệp Đoàn là “ủng hộ - phê bình” (soutien critique). Ủng hộ trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Pháp. Phê bình những gì không đồng ý. Đảng cộng sản không công nhận khẩu hiệu này, vì theo họ, đã ủng hộ thì không được phê bình; ủng hộ là nhắm mắt theo như ông Nguyễn Khắc Viện đã giải thích trong một bài báo.

Theo gương Stalin ở Nga và Mao Trạch Đông ở Trung Quốc, các lãnh tụ ở Việt Nam tự cho mình quyền “không bao giờ sai lầm”. Sai lầm luôn luôn ở phía những người phê bình hoặc đối lập với đảng và không công nhận cho những người này quyền được sai lầm (le droit à l’erreur). Cho nên bất cứ ai phê bình hay đối lập với đảng đều bị liệt vào hàng ngũ những người “phản động” cần phải tiêu diệt. Trong hàng ngũ nội bộ đảng cũng vậy, người ta cũng hành xử theo cùng một phương pháp. Tệ hơn nữa, đảng dùng biện pháp giam cầm tất cả những ai có thái độ không đồng ý hay bị tình nghi là đối lập với đường lối đảng. Những người này bị bỏ tù hàng chục năm mà không hề có án xử. Họ bị giam cầm mà không hiểu tại sao. Và khi được thả ra khỏi nhà tù, họ cũng chẳng hiểu vì sao mình được thả. Mọi sự đều do quyền uy tuyệt đối của các lãnh tụ ở các cấp cao quyết định. Lãnh đạo đảng đứng trên pháp luật và đứng ngoài pháp luật.

Chế độ độc tài một đảng không do một sự ngẫu nhiên nào của lịch sử. Chế độ ấy đã từng bước được đảng tạo ra các điều kiện cho nó trở nên hiện thực. Từ vụ ám sát Tạ Thu Thâu và những người Đệ Tứ đến vụ tảo trừ các nhân vật của những đảng phái quốc gia, từ vụ đàn áp tàn bạo nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đến vụ trừng phạt những đảng viên về tội “xét lại chống đảng”, đảng đã từng bước diệt trừ mọi mầm mống đối lập; dọn đường cho sự thành công nắm trọn quyền hành tuyệt đối. Đảng nói “dân làm chủ”. Sự thật “đảng làm chủ”, “dân chỉ có quyền nhắm mắt theo”.

Stalin và chủ nghĩa Stalin không những đã chôn vùi học thuyết Mác Xít mà còn gây ra những thảm họa khôn lường cho phong trào lao động toàn thế giới.

* Nhân kỷ niệm 59 năm ngày Tạ Thu Thâu bị Việt Minh ám sát, chúng tôi đòi đảng cộng sản Việt Nam đưa ra ánh sáng vụ ám sát này.

* Chúng tôi đòi đảng cộng sản Việt Nam phải rửa tiếng (phục hồi danh dự) cho các đảng viên Đệ Tứ và đảng viên các đảng quốc gia đã bị vu cáo là mật thám, tay sai của thực dân, đế quốc.

* Chúng tôi đòi thả các tù nhân chính trị và xóa án cho hết thảy những ai phấn đấu thực hiện một chính thể dân chủ ở Việt Nam.

* Chúng tôi đòi xét lại các vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm” và “Xét lại chống đảng”.

1er Aout 2004

(Hoàng Khoa Khôi viết bằng tiếng Pháp và dịch sang tiếng Việt)

Trở về Trang Nhà Trở về Trang Nhà